
Du Lịch Trực Tuyến: Sau nhiều năm chỉ đón được lũ "đẹt" (lũ nước ít), Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm nay vui mừng đón con lũ "đẹp", hứa hẹn mùa bội thu thủy sản, nông sản cho những năm sau.
Theo Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh An Giang, nước từ đầu nguồn sông Mê Kông về liên tục. Dân miền Tây không gọi lũ là... mùa lũ, mà người ta gọi lũ là mùa nước nổi, mùa mưu sinh...
1. Sáng sớm, ghé qua Đồn biên phòng 933 và được một thiếu úy trẻ dẫn đường xuống cửa khẩu quốc gia Khánh Bình (giáp tỉnh Cần Đan, Campuchia), chúng tôi ghé qua búng Bình Thiên, một địa danh thiên nhiên hiếm có ở miền Tây. Đây là hồ nước ngọt thiên nhiên lớn nhất miền Tây, có diện tích khoảng 300ha vào mùa kiệt nước, mùa lũ có thể tăng lên 900ha.
Hồ sâu trung bình khoảng 4m, rất độc đáo vì nước trong hồ quanh năm trong xanh, bất kể con sông Bình Di (một nhánh sông Hậu) và các kênh, rạch xung quanh đang ngầu đỏ phù sa từ thượng nguồn đổ về. Nước hồ và nước sông hình như "không đội trời chung" với nhau. Người dân ở đây cho biết, đây là sự độc đáo của hồ mà chưa ai (kể cả các nhà địa chất) lý giải được.
Điểm độc đáo nữa của búng Bình Thiên (còn gọi là hồ nước trời) là nước trong hồ quanh năm không chảy đi đâu, cứ nước cạn là lại đầy lên. Quanh hồ là các làng chài của bà con người Việt, Chăm sống bằng nghề thả câu, giăng lưới, chài cá... rất thanh bình. Trưởng ấp Tám A nói đầy tự hào: "Hồ này từ bao đời nay là một "túi" cá đồng, nhiều lắm, toàn là sặt bổi (sặt rằn), cá linh, cá rô, cá lóc... Năm nay từ đầu tháng tám, nước từ sông Mê Kông đã ào ạt đổ về, nhiều cá cho dân mình lắm".
Chiều sớm, chúng tôi đi sâu vào đất bạn bằng xuồng máy lớn, vào cánh đồng Mương Dú, nơi có hàng trăm hộ dân người Việt sang đây mỗi mùa nước nổi để thuê "lô" trên đất bạn, sinh sống bằng nghề cá và khai thác các sản vật rất hào phóng của con sông Mê Kông đang cuồn cuộn nước, căng ứ phù sa. Nơi đây, chúng tôi đã gặp một "thủy quái" trên sông, đó là ông Tư Dừng, người tài công thâm niên, hiểu rõ "tính khí" của con nước nổi, nơi mà nước "cọ" đang phình lên, từ những cánh đồng ngập nước bao la. Đi sâu vào nội đồng Mương Dú, ghe đang đi trên mặt nước ngầu đỏ phù sa bỗng gặp một vùng nước đen ngòm, nổi đầy bông súng và rau muống ruộng.
Ông Tư Dừng giảng giải: "Đây nước cọ, theo cách gọi của người dân vùng này. Đó là thứ nước đã "ngậm" đầy thứ đất xấu, nhiễm mặn và có thể chứa cả dư phần của các loại thuốc, phân bón... do người dân đã rải xuống nội đồng vụ lúa, bắp và hoa màu vừa qua. Giờ nước nổi mang phù sa về, từng hạt phù sa tươi ngọt ngấm sâu vào đất, "thổi" thứ đất xấu này lên trên, rồi con nước lớn sẽ đẩy nó ra khơi xa".
Đây chính là sự hoán đổi, hồi sinh diệu kỳ của thiên nhiên mùa nước nổi. Để nước ngọt mang phù sa về, tưới tắm ruộng đồng, thau phèn rửa mặn rồi đắp lên đất thứ dưỡng chất màu mỡ. Hàng ngàn năm đã như thế, nuôi sống con người và vạn vật. Càng vào sâu Mương Dú, nước càng mênh mông và đã hiện ra các lô mà bà con mình qua thuê để khai thác thủy sản, đặc sản. Đến đây, con nước "cọ" trải dài ngút ngát đã chuyển thành màu đỏ, nước phù sa. Đã có rất nhiều ngôi nhà, nước ngập quá nửa và lên cả đến nóc, bỏ hoang. Bất chợt mây chuyển đen vần vũ, gió thổi trên mặt nước gầm gào, báo hiệu cơn giông đang kéo tới.
Chúng tôi ghé vào nhà dì Nhon, lúc này nước đã lấp xấp sàn nhà. Dì Nhon năm nay gần 60 tuổi, là người Campuchia. Năm 1978 thoát khỏi nạn diệt chủng, sang tá túc tại Tây Ninh và lấy chồng người Việt, về vùng Mương Kinh 13 của Mương Dú làm nghề cá đã hơn 22 năm. Con gái dì là Sáu Ty, 35 tuổi, có người con gái cũng làm nghề cá theo mẹ, theo ngoại, từ bé đến lớn cứ lênh đênh theo mùa nước nổi. Dì Nhon cho biết, cả gia đình chỉ có 3-4 tay lưới (mỗi tay khoảng 30-40m), giăng bắt cá rô, cá linh và cá sặt bổi. Sau khi giăng lưới chờ cá về, con cháu dì đi xúc ốc, trúm lươn, hái bông súng. Cả ngày lặn hụp trên mặt nước, cả lúc trời mưa, trời gió, cả nhà cũng chỉ kiếm được khoảng hơn trăm ngàn, sau khi nộp "thuế" cho chủ lô. "Khổ lắm chú à! Chắc thân phận gia đình tôi là phải theo con nước, chứ chuyển sang nghề khác biết làm gì bây giờ. Năm nay, nhìn con nước về sớm, cả nhà cũng mừng vì có thể sẽ khá hơn. Cá linh non đang về đó mấy chú". Cả gia đình dâu, rể 6 người của nhà dì đều không hoặc có biết chữ nhưng bỏ lâu quá rồi... quên.
Câu chuyện chữ nghĩa của ông Tư Dừng còn nao lòng hơn. Vợ ông là giáo viên, dạy học ở đây đã hơn hai nươi năm, nhưng ông lại... một chữ bẻ đôi không biết. Kỳ lạ hơn là chuyện, cứ mỗi mùa nước nổi về là vợ chồng lại hì hụi dựng chòi giữa đồng nước mênh mông, mở "lớp" học chữ ban đêm cho bà con. Lớn bé già trẻ, đi ghe, đi chài, đi làm cá về là lại chèo xuồng, mang đèn dầu đến "lớp" học. Mỗi buổi học đêm như thế, "học phí" chỉ 1 ngàn đồng(!), với bà con Mương Dú, chỉ hy vọng là bà con mình biết đọc "để biết với người ta".
2. Chia tay gia đình dì Nhon, ông Tư Dừng và chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình sâu vô nội đồng. Các cây đu đủ, me tây, nhà cửa... cao là thế mà chỉ thấy được đọt, được mái. Ông Tư cho biết, vài bữa nữa thôi là vùng này chẳng thấy gì, chỉ là một biển nước mênh mông. Giữa bao la nước, nhà ai đó đã kịp móc đất thành một giồng cao, giăng mùng cho con trâu và chú nghé trốn bão, tránh muỗi. Muỗi ở đây nhiều vô kể, từ khắp lùm bụi ào ra khi chập tối. Muỗi nhiều đến nỗi không đập kịp, chỉ vuốt mặt, dọc theo tay chân là thấy máu đỏ cả bàn tay. Dân làm nghề cá người Việt sang đây đấu thầu thuê lô theo mùa. Mỗi lô (tính ở mặt nước) dài khoảng 6km, rộng 2km, thuê theo kiểu ăn may, trúng cá thì lời to, không trúng thì lỗ nặng. Tiền thuê lô thanh toán toàn bộ ngay khi trúng thầu. Chủ các lô thường cho người dân vô khai thác phần nào để thu phí vì không đủ nhân lực làm cả một mùa nước nổi.
Nhìn con nước lớn đang cuồn cuộc dâng lên từng ngày, ông Tư Thìn (Nguyễn Văn Thìn) quyết định lấy thêm nhiều loại lưới cho cửa hàng mình ở chợ Khánh An. "Hôm rày bán được khá đó mấy chú", ông khoe. Các tay lưới giăng ở cửa hàng ông cũng chất đống, vì, "tui thấy cá linh theo con nước chạy về nhiều". Các loại lưỡi câu ó, câu rùa, ó đứng (câu cá sặt), các loại dây gân giữ, buộc... là những loại được ngư dân hỏi mua nhiều.
Bên bến sông Bình Di, sau chợ Khánh An, sáng chiều tấp nập các loại ghe, xuồng lên rắn đồng các loại, ếch, ốc, bìm bịp cũng "theo con nước" cũng lên... chợ theo. Ở vựa rắn sát bến đò, chủ vựa ban đầu e ngại, tỏ thái độ không vui khi chúng tôi đến xem các lồng rắn, hỏi han và định chụp ảnh. Từng "bó" rắn hổ, rắn lục đuôi đỏ nằm im lìm trong lồng, nhưng khi lồng được mở, chủ vựa lấy que sắt thọc vào là chúng ngóc đầu lên, phun phì phì và phóng lên táp. Rắn hổ ở vựa này bán 400-500 ngàn/kg và không bao giờ đọng hàng. Có rắn là lái tới lấy ngay. Còn rắn lục, mỗi con giá khác nhau, con dài độ 60cm, giá khoảng 50 ngàn/con. Ở chợ có loại rắn nước rất lạ, người dân chỉ gọi chung là rắn nước, mua về nấu lẩu rất ngọt. Các khay rắn ở chợ bán từng "chùm", mỗi chùm độ 10 con được cột chặt đuôi vào nhau.
Dân ở chợ cho biết, loài rắn này cắn không chết người, nọc độc của chúng chỉ làm cho ta ngủ, ngủ li bì, nhưng ngủ đến bao giờ mới tỉnh thì chưa ai biết. Dân vùng lũ cho biết, vào khoảng tháng 9, tháng10, cá ứ trong đồng thì sẽ có loại cá leo, dài khoảng chừng 1m, nặng hai ba chục ký. Đây là loại cá đen, mạnh mẽ, quẫy có thể rách lưới. Cá này rất quý, thịt ngon thơm và có giá trị xuất khẩu rất cao. Có bao nhiêu cũng tiêu thụ hết. Còn ếch, cá rô, cá sặt, cá lóc, lươn... về bến cơ man là nhiều, tươi rói và rẻ.
Ở khu làm khô cá bên sông Bình Di, cá lóc đồng, cá rô đã về nhiều nhưng chưa có con lớn mà cũng đủ cho dân ở đây mệt mướt mồ hôi, mổ, ướp, phơi cá từ sáng đến chiều. Ghé vào vựa khô cá của anh Ba Dũng, anh cho biết, mỗi dàn phơi của anh dài khoảng 50m, rộng 4m, mỗi ngày cho ra 2 tấn cá khô, từ 4 tấn cá tươi. Những dàn phơi khô cá của anh, nếu vào khoảng tháng 10, chạy hết công suất, mỗi ngày có thể cho ra 10 tấn cá khô đủ loại. Mùa này mới đầu con nước lớn, chưa có cá lớn nên dàn phơi của anh chỉ "chơi" chuyên khô cá sặt bổi, loại con lớn xuất khẩu, đưa từ các nhà bè công nghiệp tận Thái Lan. Còn "dân làm cá đồng tự nhiên của mình, mùa này là mùa "trữ" tại các hầm, đìa trong lô, chờ cá từ lung, ruộng ra, lớn lên hết cỡ, đợi cho đến khi kiệt hết con nước, mới tát, mới đánh và chọn để làm khô". Đó mới là khô cá, ngon không đâu bì được. Khô cá sặt bổi từ dàn anh Ba Dũng, bán tại chỗ khoảng 260 ngàn/kg, xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới, nơi nào có bà con người Việt sinh sống là có khô sặt. Anh khẳng định, từ dàn phơi của anh, mỗi ngày, hàng trăm lao động nghề cá có việc đều đều. Công đánh vảy, ướp muối giá 2,4 triệu/tấn cá tươi, hút nhiều lao động nữ. Khi lũ tràn đồng đưa cá về, cá trong ruộng sinh sôi, lớn nhanh như thổi là có mắm rất ngon, giá lại rẻ vì khỏi phải trữ.
3. Thượng úy Thực ở đồn biên phòng 933 cho biết, đỉnh lũ năm nay có thể lên đến trên 5m. Do có sự kết hợp triều cường ở biển Tây. Nước đầu nguồn sông Mê Kông đang đổ về ào ạt, lên nhanh từng ngày. Cá biệt có ngày lên đến 12cm. Với đỉnh lũ cao như vậy, khoảng năm 2005 trở về trước, chỉ một lần quăng lưới, ngư dân vùng An Phú, Bắc Đai có thể phải kéo rách lưới. Còn bây giờ, cá bột (cá con) bị tận diệt nhiều như vậy thì chưa thể biết được thế nào. "Nhưng cá cũng đã về rồi, tháng 9, tháng 10 sẽ nhiều lắm", anh khẳng định. Ghi nhận từ thực tế, ở khu làm mắm, làm khô ven sông Bình Di, các nhà trong xóm đã tất bật chuẩn bị đón một mùa lũ "đẹp". Các lối đi quanh co trong xóm, mới khoảng 10 ngày trước xe máy còn chạy vèo vèo. Bây giờ đã ngập lên hơn 1,5m. Người dân đã bắt đầu đi lại bằng ghe, len lỏi trong các ngõ. Các ngõ, hẻm nhỏ hơn, người dân đã bắc những cây cầu khỉ để đi lại. Mọi sinh hoạt hàng ngày vẫn bình thường, thậm chí trong ánh mắt trẻ thơ, lũ về mang lại niềm vui.
Nhìn cảnh tất bật trên thuyền, dưới bến, chúng tôi thấy vui lây với con nước lên. Thế là mùa này hứa hẹn nhiều hy vọng để người dân có việc làm theo đúng nghề của mình, khỏi phải chạy loanh quanh, làm bất cứ việc gì được thuê mướn để độ nhật. Nhiều người làm nghề cá ở An Giang cũng thú thật, cá đồng mùa lũ ở Việt Nam ít hơn bên bạn. Để mưu sinh, ngư dân phải "chơi" đánh bắt cá tận thu, tận diệt. Hết cá, cua và các loại thủy sản lại nghèo, lại đánh bắt cào cấu, vơ vét cho bằng được để mưu sinh... Cái vòng luẩn quẩn này không biết bao giờ mới chấm dứt.
Thêm nữa, An Giang là vựa lúa của miền Tây, lúa gạo xuất khẩu nhiều, mang lại nhiều lợi ích cho nhiều ngành, nhiều người. Nhưng do áp dụng thâm canh lúa ba vụ, nhiều tỉnh, nhiều nơi đã xây đê bao quá nhiều, quá cao để đảm bảo bội thu cho các vụ lúa. Nhưng điều đó cũng có nghĩa cướp đi cơ hội mà thiên nhiên đã ban tặng mỗi khi nước về, thay đổi sức màu mỡ và tăng dinh dưỡng cho đất đai. Để cho những con nước "cọ" thau rửa ruộng đồng, con người và thiên nhiên cùng chan hòa hưởng con nước ngọt mát mùa lũ về.
Nhìn qua bên kia sông, thấy con nước đã tràn trề mênh mông và thân phận bà con mình, dầm mưa dãi nắng cũng chưa thể khá lên với nghề cá trong mùa lũ. Mong lắm lắm ở mùa nước sớm này.
Theo Petrotimes Quốc Định.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét